CÁC HÀNH VI BỊ CẤM THEO LUẬT BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG

Các hành vi bị cấm theo luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng

(Hỏi đáp cùng HLBT) Các hành vi bị cấm theo Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng

Bạn đọc hỏi: Trước đây, tôi có sử dụng dịch vụ tập GYM ở một trung tâm thể hình K, sau hơn 01 tháng trải nghiệm, tôi đã nghỉ tập. Tuy nhiên, đến nay hàng tháng đều có nhân viên tư vấn gọi điện cho tôi đến mấy lần để mời chào sử dụng dịch vụ dù tôi đã từ chối nhiều lần. Tôi cảm thấy rất khó chịu. Tôi muốn hỏi việc trung tâm thể hình này cứ liên tục làm phiền tôi như vậy có vi phạm quy định pháp luật không? Và tôi phải làm gì để họ chấm dứt hành vi này?

Các hành vi bị cấm theo luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
Các hành vi bị cấm theo luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng

1. Các hành vi bị nghiêm cấm trong bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng

Điều 10 Luật Bảo vệ người tiêu dùng năm 2023, quy định về các hành vi bị nghiêm cấm trong bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng như sau:

(1) Tổ chức, cá nhân kinh doanh bị nghiêm cấm thực hiện các hành vi sau đây:

(a) Lừa dối hoặc gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng thông qua việc cung cấp thông tin sai lệch, không đầy đủ, không chính xác về một trong các nội dung sau đây: sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ mà tổ chức, cá nhân kinh doanh bán, cung cấp; uy tín, khả năng kinh doanh, khả năng cung cấp sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ của tổ chức, cá nhân kinh doanh; nội dung, đặc điểm giao dịch giữa người tiêu dùng với tổ chức, cá nhân kinh doanh; hình ảnh, giấy tờ, tài liệu chứng nhận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ hoặc tổ chức, cá nhân kinh doanh;

(b) Quấy rối người tiêu dùng thông qua hành vi tiếp xúc trực tiếp hoặc gián tiếp trái với ý muốn của người tiêu dùng để giới thiệu về sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ, tổ chức, cá nhân kinh doanh, đề nghị giao kết hợp đồng hoặc có hành vi khác gây cản trở công việc, sinh hoạt bình thường của người tiêu dùng;

(c) Ép buộc người tiêu dùng mua sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ trái với ý muốn của người tiêu dùng thông qua việc thực hiện hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc hành vi khác có tính chất tương tự;

(d) Ép buộc người tiêu dùng thanh toán cho sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ đã cung cấp mà không có thỏa thuận trước với người tiêu dùng;

(e) Không đền bù, trả lại tiền hoặc đổi lại sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ cho người tiêu dùng do nhầm lẫn của tổ chức, cá nhân kinh doanh;

(f) Không đền bù, trả lại tiền hoặc đổi lại sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ cho người tiêu dùng do sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ không đúng với đăng ký, thông báo, công bố, niêm yết, quảng cáo, giới thiệu, giao kết, cam kết của tổ chức, cá nhân kinh doanh;

(g) Đánh tráo, gian lận sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ khi giao hàng, cung cấp dịch vụ cho người tiêu dùng;

(h) Không thông báo trước, không công khai cho người tiêu dùng việc tài trợ cho người có ảnh hưởng dưới mọi hình thức để sử dụng hình ảnh, lời khuyên, khuyến nghị của người này nhằm xúc tiến thương mại hoặc khuyến khích người tiêu dùng mua, sử dụng sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ;

(i) Ngăn cản người tiêu dùng kiểm tra về sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác;

(j) Yêu cầu người tiêu dùng phải mua thêm sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ như là điều kiện bắt buộc để giao kết hợp đồng trái với ý muốn của người tiêu dùng;

(k) Quy định điều khoản không được phép tại Điều 25 của Luật này trong hợp đồng giao kết với người tiêu dùng, hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung;

(l) Thu thập, lưu trữ, sử dụng, chỉnh sửa, cập nhật, hủy bỏ thông tin của người tiêu dùng trái quy định của pháp luật.

(2) Tổ chức, cá nhân bán hàng đa cấp bị nghiêm cấm thực hiện các hành vi sau đây:

(a) Yêu cầu người khác phải đặt cọc, nộp một khoản tiền hoặc mua một số lượng hàng hóa nhất định để tham gia bán hàng đa cấp;

(b) Cung cấp thông tin gian dối, gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng, cá nhân tham gia bán hàng đa cấp;

(c) Kinh doanh theo phương thức đa cấp không có giấy chứng nhận đăng ký hoạt động bán hàng đa cấp; tổ chức hoạt động giới thiệu về hoạt động kinh doanh theo phương thức đa cấp không có giấy chứng nhận đăng ký hoạt động bán hàng đa cấp;

(d) Kinh doanh theo phương thức đa cấp đối với dịch vụ hoặc hình thức khác không phải là mua bán hàng hóa, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác;

(e) Phát triển mạng lưới bán hàng đa cấp không dựa trên giao dịch mua bán hàng hóa;

(f) Và những hành vi theo quy định tại khoản 1 Điều 10 Luật Bảo vệ người tiêu dùng năm 2023 (mục (1) nêu trên).

(3) Tổ chức, cá nhân kinh doanh thiết lập, vận hành, cung cấp dịch vụ nền tảng số bị nghiêm cấm thực hiện các hành vi sau đây:

(a) Ép buộc hoặc ngăn cản người tiêu dùng đăng ký sử dụng hoặc sử dụng nền tảng số trung gian khác như là điều kiện bắt buộc để sử dụng dịch vụ;

(b) Hạn chế quyền lựa chọn của người tiêu dùng thông qua việc sắp xếp ưu tiên lựa chọn sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ giữa các tổ chức, cá nhân kinh doanh cung cấp trên nền tảng số mà không công khai tiêu chí lựa chọn;

(c) Sử dụng biện pháp ngăn hiển thị hoặc hiển thị không trung thực kết quả phản hồi, đánh giá của người tiêu dùng về sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ, tổ chức, cá nhân kinh doanh trên nền tảng số, trừ trường hợp phản hồi, đánh giá đó vi phạm quy định của pháp luật, trái đạo đức xã hội;

(d) Sử dụng biện pháp ngăn cản đăng ký, hoạt động, đánh giá, hiển thị phản hồi của tổ chức xã hội tham gia bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng;

(e) Ngăn cản người tiêu dùng gỡ bỏ phần mềm, ứng dụng cài đặt sẵn mà không ảnh hưởng đến tính năng kỹ thuật cơ bản giúp nền tảng số vận hành bình thường hoặc buộc người tiêu dùng cài đặt phần mềm, ứng dụng kèm theo trên nền tảng số;

(f) Thực hiện hành vi quy định tại khoản 1 Điều 10 Luật Bảo vệ người tiêu dùng năm 2023 (mục (1) nêu trên).

(4) Tổ chức, cá nhân bị nghiêm cấm lợi dụng việc bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng để xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân khác.

2. Nguyên tắc gửi tin nhắn quảng cáo, thư điện tử quảng cáo, gọi điện thoại quảng cáo

Điều 13 Nghị định 91/2020/NĐ-CP quy định về nguyên tắc gửi tin nhắn quảng cáo, thư điện tử quảng cáo, gọi điện thoại quảng cáo như sau:

(1) Không được phép gửi tin nhắn quảng cáo, gọi điện thoại quảng cáo đến các số điện thoại nằm trong Danh sách không quảng cáo quy định tại khoản 1 Điều 7 Nghị định này hoặc Người sử dụng không đồng ý nhận quảng cáo trước đó.

(2) Đối với quảng cáo qua tin nhắn và đối với số điện thoại ngoài Danh sách không quảng cáo, Người quảng cáo chỉ được phép gửi tin nhắn đăng ký quảng cáo đầu tiên và duy nhất. Bộ Thông tin và Truyền thông quy định chi tiết việc gửi tin nhắn đăng ký quảng cáo.

(3) Trường hợp Người sử dụng từ chối nhận quảng cáo hoặc không trả lời sau khi nhận tin nhắn đăng ký quảng cáo đầu tiên, Người quảng cáo không được phép gửi bất kỳ tin nhắn đăng ký quảng cáo hoặc tin nhắn quảng cáo nào đến số điện thoại đó.

(4) Phải chấm dứt việc gửi đến Người sử dụng nhận các tin nhắn quảng cáo, thư điện tử quảng cáo hoặc thực hiện gọi điện thoại quảng cáo ngay sau khi nhận được yêu cầu từ chối của Người sử dụng.

(5) Mỗi Người quảng cáo không được phép gửi quá 03 tin nhắn quảng cáo tới một số điện thoại, 03 thư điện tử quảng cáo tới một địa chỉ thư điện tử, 01 cuộc gọi điện thoại quảng cáo tới một số điện thoại trong vòng 24 giờ trừ trường hợp đã có thỏa thuận khác với Người sử dụng.

(6) Chỉ được gửi tin nhắn trong khoảng thời gian từ 07 giờ đến 22 giờ mỗi ngày, gọi điện thoại quảng cáo từ 08 giờ đến 17 giờ mỗi ngày trừ trường hợp đã có thỏa thuận khác với Người sử dụng.

(7) Nội dung quảng cáo phải phù hợp với quy định của pháp luật về quảng cáo.

(8) Chỉ được gửi tin nhắn quảng cáo, gọi điện thoại quảng cáo khi đã được cấp tên định danh và không được phép sử dụng số điện thoại để gửi tin nhắn quảng cáo hoặc gọi điện thoại quảng cáo.

Đồng thời, tại Điều 11 và Điều 12 Nghị định 91/2020/NĐ-CP quy định về Trách nhiệm của Người quảng cáo, Quyền và nghĩa vụ của người sử dụng như sau:

Điều 11. Trách nhiệm của Người quảng cáo

1. Phải kiểm tra Danh sách không quảng cáo quy định tại khoản 1 Điều 7 Nghị định này để tránh việc gửi tin nhắn đăng ký quảng cáo, tin nhắn quảng cáo, gọi điện thoại quảng cáo đến các số điện thoại trong danh sách này.

2. Chỉ được phép gửi tin nhắn quảng cáo, thư điện tử quảng cáo, gọi điện thoại quảng cáo đến Người sử dụng khi được Người sử dụng đồng ý trước về việc nhận quảng cáo qua một trong các cách sau:

a) Đồng ý nhận tin nhắn quảng cáo sau khi Người quảng cáo gửi tin nhắn đăng ký quảng cáo đầu tiên và duy nhất;

b) Khai báo và xác nhận vào mẫu đăng ký trên giấy in, Cổng/Trang thông tin điện tử, các ứng dụng trực tuyến, mạng xã hội của Người quảng cáo;

c) Gọi điện thoại hoặc nhắn tin đến tổng đài thoại của Người quảng cáo để đăng ký;

d) Sử dụng phần mềm hỗ trợ đăng ký nhận quảng cáo.

3. Cung cấp cho Người sử dụng công cụ tra cứu hoặc lưu trữ các thỏa thuận về việc đăng ký, từ chối nhận tin nhắn quảng cáo, thư điện tử quảng cáo, cuộc gọi quảng cáo trên Cổng/Trang thông tin điện tử, mạng xã hội của mình để phục vụ việc thanh, kiểm tra và giải quyết khiếu nại, tố cáo.

4. Chịu trách nhiệm và phải có biện pháp kiểm tra việc đã đồng ý trước một cách rõ ràng của Người sử dụng khi gửi tin nhắn quảng cáo, thư điện tử quảng cáo, gọi điện thoại quảng cáo.

5. Có giải pháp hợp lý, tạo điều kiện thuận lợi cho Người sử dụng trong việc từ chối nhận tin nhắn quảng cáo theo Điều 16, thư điện tử quảng cáo theo Điều 20 Nghị định này.

6. Phối hợp với doanh nghiệp cung cấp dịch vụ viễn thông, Internet, thư điện tử và các cơ quan tổ chức khác có liên quan trong việc quảng cáo qua tin nhắn, thư điện tử, gọi điện thoại.

7. Lưu trữ thông tin đăng ký nhận quảng cáo, thông tin yêu cầu từ chối và thông tin xác nhận từ chối của người sử dụng để phục vụ thanh tra, kiểm tra, giám sát trong thời gian tối thiểu là 01 năm.

Điều 12. Quyền và nghĩa vụ của người sử dụng

1. Chuyển tiếp thông tin về tin nhắn rác, thư điện tử rác, cuộc gọi rác về hệ thống tiếp nhận phản ánh tin nhắn rác, thư điện tử rác, cuộc gọi rác của Bộ Thông tin và Truyền thông (Cục An toàn thông tin) hoặc của tổ chức, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ viễn thông, Internet, thư điện tử.

2. Được quyền nhận hoặc từ chối nhận quảng cáo.

3. Phối hợp với tổ chức, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ viễn thông, Internet, thư điện tử, Người quảng cáo và cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong việc chống tin nhắn rác, thư điện tử rác, cuộc gọi rác.”

3. Trả lời câu hỏi của bạn đọc

Như vậy, việc nhân viên của trung tâm thể hình K nhiều lần gọi điện mời chào sử dụng dịch vụ dù bạn đã từ chối trước đó có dấu hiệu vi phạm quy định tại Điều 10 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 2023, do đã thực hiện hành vi quấy rối người tiêu dùng thông qua hoạt động tiếp thị hàng hóa, dịch vụ trái với ý muốn của người tiêu dùng từ 02 lần trở lên.

Đồng thời, hành vi này cũng có dấu hiệu vi phạm Điều 13 Nghị định 91/2020/NĐ-CP về chống tin nhắn rác, thư điện tử rác và cuộc gọi rác, bởi việc thực hiện cuộc gọi quảng cáo phải được người nhận đồng ý trước một cách rõ ràng và doanh nghiệp không được tiếp tục gọi điện quảng cáo khi người nhận đã từ chối tiếp nhận.

Để yêu cầu Trung tâm thể hình K chấm dứt hành vi này, bạn có thể thực hiện các biện pháp sau:

(1) Đưa ra lời từ chối chính thức và cảnh báo pháp lý: Khi tiếp nhận cuộc gọi tiếp theo từ nhân viên trung tâm K hãy tuyên bố rõ ràng việc bạn không có nhu cầu sử dụng dịch vụ và không đồng ý nhận cuộc gọi quảng cáo, đồng thời ghi âm lại cuộc gọi (nếu cần);

Yêu cầu trung tâm xóa số điện thoại của tôi khỏi hệ thống dữ liệu tiếp thị. Nếu còn tiếp tục, bạn sẽ gửi phản ánh đến Cục Cạnh tranh và Bảo vệ người tiêu dùng và Bộ Thông tin và Truyền thông.

(2) Đăng ký vào Danh sách không quảng cáo (DoNotCall – DNC): Đây là danh sách do Cục An toàn thông tin quản lý. Các cá nhân, tổ chức gọi điện quảng cáo vào các số điện thoại trong danh sách này sẽ bị phạt rất nặng.

Cách đăng ký miễn phí: Soạn tin nhắn DK DNC gửi 5656.

(3) Phản ánh cuộc gọi rác đến cơ quan chức năng: Nếu trung tâm K vẫn phớt lờ lời cảnh báo của bạn, hãy gửi bằng chứng (số điện thoại gọi đến, thời gian, file ghi âm nếu có) đến đầu số tiếp nhận phản ánh của Bộ Thông tin và Truyền thông

  • Cách 1: Soạn tin nhắn theo cú pháp: V [Số điện thoại – nguồn phát tán] [Nội dung phản ánh] gửi 5656 (hoặc gọi đến đầu số 156 để phản ánh).
  • Cách 2: Phản ánh trực tiếp qua website chính thức của Cục An ninh mạng và phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao – Hệ thống phòng, chống tin nhắn rác, cuộc gọi rác : https://nospam.vncert.vn/

(4) Khiếu nại hành vi vi phạm quyền lợi người tiêu dùng: Bạn có thể gửi đơn khiếu nại hoặc gọi điện phản ánh đến Tổng đài tư vấn, hỗ trợ người tiêu dùng của Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia (đầu số 1800 6838). Cơ quan quản lý cạnh tranh và bảo vệ người tiêu dùng sẽ có biện pháp can thiệp, yêu cầu trung tâm thể hình chấm dứt hành vi quấy rối và bảo mật thông tin cá nhân của bạn.

Trên đây là bài viết của Hãng Luật Bạch Tuyết về chủ đề “Các hành vi bị cấm theo Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng” được xây dựng dựa trên thông tin do bạn đọc cung cấp và quy định pháp luật hiện hành. Nội dung không phải là ý kiến tư vấn pháp lý cho một trường hợp cụ thể. Các quy định pháp luật được trích dẫn có hiệu lực tại thời điểm đăng tải, tuy nhiên, có thể đã được sửa đổi, bổ sung hoặc thay thế sau đó. Vì vậy, Quý khách hàng nên tham khảo ý kiến chuyên gia trước khi áp dụng vào tình huống thực tế.

Nếu Quý khách hàng có thắc mắc liên quan đến chủ đề trên hoặc cần tư vấn pháp lý trong các lĩnh vực khác, vui lòng liên hệ với Hãng Luật Bạch Tuyết theo thông tin sau:

THÔNG TIN LIÊN HỆ:

Trụ sở chính: 1132 Lê Đức Thọ, phường An Hội Đông, Thành phố Hồ Chí Minh.

Fanpage: Hãng Luật Bạch Tuyết

Tel: 0986 797 648

Chi nhánh 1: 529/122 Huỳnh Văn Bánh, phường Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh.

Fanpage: Hãng Luật Bạch Tuyết – Chi nhánh Phú Nhuận

Tel: 0376 019 226

Chi nhánh 2: Tầng 3, 56 Bùi Thiện Ngộ, phường Nam Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa.

Fanpage: Hãng Luật Bạch Tuyết – Chi nhánh Nha Trang

Tel: 0971 926 781

Mail: luatbachtuyet@gmail.com

Website: https://hangluatbachtuyet.com/

Tik.tok:  Hãng Luật Bạch Tuyết (@hang.luat.bach.tuyet) | TikTok

________________________________________

BÀI VIẾT LIÊN QUAN:

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *